08 6860 8040
08 3848 3858
namhuynhdao@gmail.com

Võ Đạo với văn hóa Việt Nam

Thay đổi kích thước chữ
Đánh giá bài viết
_DSC1720

VÕ ĐẠO VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM

Huỳnh Tuấn Kiệt – Huỳnh Quốc Thắng

TÓM TẮT

Trong những giá trị lịch sử – văn hóa nổi bật của Việt Nam, bên cạnh truyền thống “Nhân văn” của một dân tộc hiếu hòa, thích văn học nghệ thuật, còn có truyền thống “Thượng võ” của một đất nước luôn đối đầu với những thiên tai, địch họa ngoại xâm hết sức khắc nghiệt. Nhìn xuyên suốt trong các hoạt động võ thuật của các môn phái võ, cho đến trên tổng thể các mặt đời sống xã hội, hai mặt “Nhân văn – Thượng võ” như vậy mang tính chất như những đạo lý sống không thể tách rời, kết hợp cùng với nhưng đặc điểm bản sắc văn hóa dân tộc khác nhau chính là nội dung cơ bản của “Văn hóa võ đạo”. Đó là nhân tố cốt lõi tạo nên “Sức mạnh Việt Nam”, từng được minh chứng qua trường kỳ lịch sử và cho đến nay nó có thể sẽ là một trong những nguồn lực tinh thần quan trọng cho hiện tại và cho cả tương lai lâu dài.

Từ khóa: Võ đạo – Văn hóa võ đạo – Văn hóa Việt Nam

_DSC1720

Mở đầu

Võ/vũ () giải thích theo các từ điển thông thường là “dùng uy lực để làm người ta phục”. Do đó, võ/vũ lực (武力) được xem là “sức mạnh về quân sự”. Ngày nay, ở Trung Quốc và một số nước (trong đó có Việt Nam), người ta gọi “võ” là “võ thuật” (武術), tức kỹ thuật/nghệ thuật đánh võ (martial arts), mà đại diện là “Wushu” để chỉ môn thể thao hiện đại được xây dựng theo những kỹ thuật võ cổ truyền. Ngoài ra, trong thế giới “võ” bên cạnh các môn phái võ truyền thống dân tộc bản địa, còn bao gồm tất cả những môn võ hiện đại được du nhập từ các quốc gia, dân tộc khác… Theo đó, võ nghệ/nghiệp (武藝/武業), nói gọn là “nghề võ” hoặc nhìn rộng hơn gồm cả “võ thuật”, võ công (武功) là công phu về võ; võ học (武學) là học thuật về võ; và võ đạo (武道) (martial art Spirit) là những đạo lý/triết lý hợp với đạo đức của nhân sinh mà những người theo nghề/nghiệp võ phải tuân thủ, nên có người còn gọi đó là võ đức (武德). Thực ra, võ đạo/võ đức rộng hơn võ thuật cả về nội hàm ý nghĩa lẫn về biên độ những vấn đề thuộc về khía cạnh “văn hóa võ”, tức những giá trị xã hội mà võ đem lại cho cuộc sống con người trong lịch sử, trong hiện tại và cả trong tương lai. Khái niệm “văn hóa võ đạo” (martial art spiritual culture) chính là sự nhấn mạnh toàn cảnh về những vấn đề chung nhất như vậy, đặc biệt khi liên hệ với thực tế văn hóa dân tộc Việt Nam. Chúng ta từng biết rằng văn hoá dân tộc thể hiện sâu đậm qua lịch sử, phong tục tập quán, địa lí, tâm thức dân tộc và nhiều tri thức dân tộc khác nhau như y học, binh pháp, thể thao dân gian, với cả những yếu tố liên quan đến thể chất dân tộc, trong đó có văn hóa võ đạo dân tộc…

  1. Văn hóa võ đạo, một thực thể lịch sử – văn hóa Việt Nam

1.1. Võ và văn hóa võ đạo với truyền thống “Nhân văn – Thượng võ” Việt Nam, nhận thức từ thực tế lịch sử

Xưa nay, theo quan niệm thông thường người ta hay nói đến “văn” và “võ” như hai mặt hoạt động xã hội đối lập nhau về tính chất: một bên là hoạt động trí óc gắn với văn học nghệ thuật, chính trị… (văn) và một bên là tay chân, cơ bắp gắn với thể dục thể thao, quân sự… (võ). Theo đó, căn cứ vào tính cách và bản sắc dân tộc, một số đối tượng có nhận thức rằng người Việt Nam xưa nay là “trọng văn khinh võ”, thậm chí cho rằng đất nước này không có “truyền thống võ” (bởi bản tính hiếu hòa !?). Những suy nghĩ như vậy có lý và đúng rằng người Việt Nam vốn yêu hòa bình, ghét chiến tranh (không thích “đánh nhau”)…

Tuy nhiên, nhận thức đó không trúng khi đối chiếu với thực tế lịch sử. Các di chỉ khảo cổ thời Đông Sơn liên quan “thuở vua Hùng dựng nước” đã có dày đặc các hiện vật vũ khí các loại cùng với nhiều nguồn tư liệu, sử sách ghi ghép khác nhau (trong, ngoài nước đặc biệt là của Trung Quốc), các sinh hoạt văn hóa dân gian (nghệ thuật, lễ hội…) nói về các cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc, hoặc dấu ấn rõ nét là từ các lò võ với những môn phái võ lâu đời còn lưu truyền đến ngày nay… tất cả đã minh chứng về một truyền thống “Thượng võ” có thật của dân tộc Việt Nam. Vả chăng, nhận thức như đã nói trên cũng không trúng còn là vì bản chất trong “võ” có “văn” và ngược lại trong “văn’ có “võ”.

Qua thực tế lịch sử hàng ngàn năm, dân tộc Việt Nam luôn phải đối đầu với những cuộc chiến tranh xâm lược mà hầu hết đều là do những lực lượng đế quốc hàng đầu thế giới gây ra, chưa kể những thử thách của thiên nhiên trong quá trình khai mở đất đai, cương thổ… Do đó, để chiến đấu và chiến thắng, tồn tại trước những điều kiện khắc nghiệt, không thể khác, con người Việt Nam phải sáng tạo ra một vốn “văn hóa” quan trọng của mình, đó là “văn hóa võ”, bao gồm cả khả năng chiến đấu bằng quân sự, thế lực, nhưng bên trong còn là cả sức mạnh văn hóa tinh thần và trí tuệ của cha ông để lại, của toàn dân tộc. Chính tinh thần đoàn kết cộng đồng cùng với tình yêu quê hương, đất nước, sự linh hoạt, sáng tạo là một bộ phận tạo nên nội lực đưa đến thắng lợi cuối cùng trong mọi cuộc chiến đấu ở bất cứ hoàn cảnh nào…

Đương nhiên “Văn hóa võ” trước tiên phải bắt đầu từ việc lấy cơ thể của mình làm đối tượng rèn luyện, hoàn thiện về sức mạnh thể lực (cơ bắp, hệ thần kinh, tuần hoàn, hô hấp…). kết hợp với sức khỏe tâm lực (tinh thần, ý chí chiến đấu…), tiếp theo là nghiên cứu, học tập, tiếp thu các thành tựu, kết quả đã có về võ thuật của các dân tộc khác biến hóa lại cho phù hợp với thể trạng của mình… Tất cả tạo thành hệ thống đòn thế võ bằng tay chân hoặc kết hợp với các loại vũ khí khác nhau và được lưu truyền qua ký ức hoặc ghi chép để các thế hệ giúp truyền thụ cho nhau, vừa là nhằm nâng cao sức khỏe bản thân, vừa nhằm tích hợp khả năng chiến đấu khi cần thiết.

Trên cơ sở đó, từ những tập thể cùng học tập và truyền dạy võ nghệ khác nhau mà các môn phái (lò) võ được hình thành và phát triển bằng những truyền thống riêng, liên quan một tổ sư, một dòng tộc, với những hoàn cảnh lịch sử phát triển môn phái bằng hệ thống cơ sở vật chất, tổ chức riêng như các võ đường, bộ máy quản lý, môn quy… Tuy có những cái riêng như vậy, nhưng nhìn chung tất cả các môn phái (lò) võ ở nước ta ngoài việc truyền thụ, rèn luyện công phu võ thuật, trước sau vẫn luôn cùng đề cao “võ đức” và “võ đạo” là hai mặt khác nhau nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau.

Trong cuộc sống đời thường cũng như trong võ học, nói đến “đạo” là nói đến các quy luật mang tính bản nguyên, phổ quát, tự thân chi phối vạn vật, mọi hoạt động con người và chỉ có thể được nhận thức bằng tư duy thực tại, hoặc được hiện thực hóa bằng hành động tự giác thông qua “đức” sống của con người, là hành xử theo đạo lý sống ấy. Võ đạo và võ đức đã luôn trở thành phương châm rèn luyện không thể thiếu của con người học võ, với mục tiêu “lấy tu tâm dưỡng tính”, lấy chữ nhẫn, chữ nhịn làm tôn chỉ, lấy tự vệ bản thân làm tín điều để tự răn mình… Người thành tâm học võ, luyện võ, đấu võ luôn đi đúng con đường “Chánh Đạo”, không lạc sang phía đường “Tà Đạo”; và hơn nữa, “người trui rèn Võ Đạo còn có khả năng chịu đựng mọi gian nguy, thử thách, luôn nhẫn nại và thành tâm tu luyện “Tâm Đạo”, làm cho tâm trí luôn sáng trong, không một chút vẩn dục, thể hiện đầy đặn “chất dũng”, “chất hùng” và thần thái tiết liệt, kiên trung, không chao đảo, bi lụy, khiếp nhược… sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa…”.

Theo cách thức như nêu trên, truyền thống “Thượng võ” của Việt Nam qua lịch sử đã tạo ra khá đầy đủ các mặt hoạt động của “võ” như : Võ thuật, võ học, võ lý, võ lễ, y võ, võ nhạc, võ trận… bên cạnh là võ bị, binh cơ, binh thư, võ cử… và các thiết chế văn hóa Võ như Giảng võ đường/Võ học sở, Võ miếu… Rộng ra, cả dân tộc với tinh thần “Thượng võ” không tách tới với “Nhân văn” để tạo nên “Võ đạo Việt Nam” như là một “đạo lý sống” bằng hành động (không mang tính lý thuyết), luôn nhất quán trong thực tế đời sống, được thể hiện cụ thể ở khả năng chiến đấu trong mọi tình thế khắc nghiệt, với tinh thần “trọng nhân nghĩa, lòng bao dung, độ lượng, nhân ái, được hun đúc, tạo dựng bằng cả ý chí sắt đá, trí thông minh, lòng quả cảm, sức mạnh tiềm tàng của toàn dân tộc; đồng thời biểu thị ước mong đất nước ta, nhân dân ta luôn được sống trong thanh bình, độc lập, tự do, trong quan hệ thân thiện, hòa hiếu với lân bang và các nước trên thế giới”. Điều đó góp phần khẳng định rằng cùng với sự xuất hiện những anh hùng dân tộc, lãnh tụ khởi nghĩa bằng nhiều chiến tích lừng lẫy, với võ công xuất chúng qua các thòi kỳ lịch sử, đến nay với sự hiện diện những vùng “đất võ”, với nhiều môn phái võ cổ truyền dân tộc trên khắp miền đất nước từ Bắc chí Nam, từ miền ngược đến miền xuôi, thậm chí hoạt động võ thuật còn phát triển rộng ra ở nhiều nơi trên khắp thế giới… tất cả trước sau đều nhất quán thể hiện một nền “văn hóa võ đạo Việt Nam”, với những truyền thống lớn theo tinh thần “Nhân văn Thượng võ” như đã nói !…

1.2. Văn hóa võ đạo trong tiến trình dựng nước giữ nước của dân tộc với “Thân khí” (“Nguyên khí”) và “Dân khí” Việt Nam

Bên cạnh và gắn liền tinh thần “Nhân văn – Thượng võ”, trên thực tế văn hóa võ đạo có thể trở thành nguồn nội lực quan trọng quyết định, tạo nên “sức mạnh bên trong” của văn hóa và con người Việt Nam trước mọi thử thách lịch sử. Trước hết đó là bản lĩnh cá nhân của những “hiền tài” (người có đức có tài) theo tinh thần “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” như quan niệm xưa đã xác định trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Thực chất yếu tố “nguyên khí” (khí gốc) đó chính là những gì quan trọng nhất, góp phần tạo nên phẩm chất nổi trội cho những nhân vật trong lịch sử, tiêu biểu như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Lê Lợi… hoặc những con người bình thường với những tính cách tốt đẹp thể hiện được truyền thống dân tộc in dấu ngay trong cuộc sống đời thường… Bằng cái nhìn thực tiễn, những yếu tố “nguyên khí” ấy có thể xem là một bộ phận mang tính chất sản phẩm trực tiếp của văn hóa võ đạo, thông qua “Thân khí” bao gồm “thân vật chất” (thân, thể…) với “khí vật chất” (khí huyết) và “thân tinh thần” (tâm, trí…) với “khí tinh thần” (chí khí, tâm khí…) là “sự thăng hoa của văn hóa cá nhân, vốn là kết quả sự vận động, tương tác theo chiều hướng tích cực của toàn bộ cơ sở vật chất, tinh thần thuộc về đời sống con người trong tư cách cá thể”, là “tính mục đích tích cực nhất trong xu hướng phát triển của nhân cách con người Việt Nam” theo tinh thần “Nhân văn – Thượng võ” như đã nói.

Không dừng lại như thế, văn hóa võ đạo còn liên quan đên “Dân khí”, một biểu hiện khác của truyền thống “Nhân văn – Thượng võ” từ góc nhìn cộng đồng:

“Nhân văn” mang tính chất là nguồn mạch tự tính của dân tộc, còn “Thượng võ” chính là sự thăng hoa của “Nhân văn” trong cuộc sống thường ngày, đặc biệt là trong những tình huống bất thường và được tỏa sáng ra thành yếu tố gọi là “Dân khí”. Nói cách khác “Dân khí” chính là một biểu hiện từ truyền thống “Nhân văn – Thượng võ” trong mạch ngầm văn hóa dân tộc, được nuôi dưỡng, phát triển qua trường kỳ lịch sử để ở những hoàn cảnh nhất định, trước vận mệnh lịch sử của dân tộc, nó sẽ được phát tiết tinh hoa thành nguồn lực vô tận… Như vậy, nếu nói “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, đối với từng cá nhân thì “Dân khí” cũng chính là “nguyên khí”, là “khí thiêng” mang tính chất nguồn sống trong mọi “hơi thở” của cộng đồng, của toàn dân tộc. Nó vừa là hệ quả được tạo nên do sức mạnh vật chất của thể chất, của hành động, đồng thời vừa là sản phẩm sức mạnh tinh thần của tâm thức, của những truyền thống thể hiện ngay trong khí chất và nhân cách con người, với mẫu số chung là Hành động (SỐNG) tạo nên Khí lực (SINH KHÍ) của con người (DÂN TỘC) cả về thể chất lẫn về tâm hồn.

Trong trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước đầy biến động như người ta đã từng thấy, dân tộc Việt Nam luôn phải đối đầu với những thử thách cực kỳ gay gắt, thậm chí mang tính sống còn. Không thể nói khác rằng đã có một sức mạnh phi thường của một nguồn nội lực tiềm ẩn để giúp cho dân tộc này tồn tại, phát triển mạnh mẽ và Vượt qua tất cả những tình huống thử thách lớn lao như vậy… Đó chính là sức mạnh của truyền thống “Nhân văn – Thượng võ” được hình thành từ lâu đời, được tích lũy nên và tỏa sáng ra thành “Thân khí” (nguyên khí) của các cá nhân con người và “Dân khí” của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đó chính là kết quả “xương máu, tim óc” của bao nhiêu thế hệ đi trước truyền lại như một vốn văn hóa quý báu của toàn dân tộc, mà trước hết các môn phái võ cổ truyền Việt Nam là một trong những nơi đóng vai trò tích cực đối với việc bảo tồn và phát huy các truyền thống ấy, như một trong những nhân tố có thể “làm cho sức mạnh của truyền thống dân tộc hóa thân thành nguồn lực mới của con người Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước”.

  1. Văn hóa võ đạo Việt Nam trong bối cảnh thời đại mới

2.1. Văn hóa võ đạo với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Xét về bản chất, võ đạo Việt Nam chính là sự phát huy toàn diện sự vận động của chỉnh thể văn hóa dân tộc, trên nền tảng tinh thần “Nhân văn”, nhằm giải phóng nội lực tri thức văn hóa của dân tộc, hướng đến những giá trị sống tốt đẹp, trong đó có giá trị cốt lõi từng tạo nên sức mạnh cá tính và phẩm cách hành động của dân tộc theo tinh thần “Thượng võ”. Và chính nhờ vào tâm thế của đạo lý “Nhân văn – Thượng võ” như vậy mà võ đạo Việt Nam đã, đang và sẽ trở thành một nguồn lực quan trọng, có thể có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thông qua việc giáo dục và phát triển “văn hóa thể chất” cho toàn xã hội, đặc biệt là cho lớp trẻ:

Thể chính là “gốc sống” và chất là nguồn “dưỡng sinh” nuôi cái “gốc sống” ấy, nên sự phát triển thể chất là bản chất và mục tiêu tối hậu mà con người nhắm đến dựa trên cơ sở nắm những nguyên lí vận động tức khoa học vận động (KHVĐ)…, cái quyết định văn hóa thể chất… Văn hóa thể chất (giáo dục thể chất theo định hướng văn hóa) ở đây chính là sự kết tinh toàn diện giá trị KHVĐ trong cứu cánh của văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại. Mục tiêu cao nhất của nó chính là vì nguồn sinh lực, tri thức văn hóa thống nhất được năng lực và năng lượng vô hạn của chỉnh thể thân – tâm (cơ sở “thể chất” của con người) trong tổng thể các mối quan hệ tương tác với xã hội, tự nhiên, nhằm khai thác năng lực vô biên của con người trong định hướng “đạo đức hóa” cuộc sống, đạt sự cân bằng và hợp nhất nhân sinh và vũ trụ… Với tư cách là một trong những bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc, Võ đạo Việt Nam theo tinh thần, mục tiêu “Nhân văn – Thượng võ” với đầy đủ chân giá trị của nó có thể góp phần tích cực để xây dựng đời sống thể chất… với chuẩn mục văn hoá dân tộc chân thật nhằm phát triển toàn diện con người.

Theo những chuẩn mực chung được xác định rõ với những kế hoạch cụ thể, được triển khai đồng bộ trong đời sống từ thành thị đến nông thôn và hải đảo, đặc biệt là đi sâu vào các gia đình dòng họ, gắn với môi trường giáo dục trường học các cấp, lực lượng vũ trang các loại và mọi thiết chế văn hóa cộng đồng nhằm phát triển sâu rộng phong trào rèn luyện thể chất theo tinh thần đề cao văn hóa võ đạo, góp phần thực hiện tốt các mục tiêu, định hướng xã hội tốt đẹp, chắc chắn sẽ là con đường tích cực mang ý nghĩa chiến lược và có hiệu quả thiết thực trên nhiều mặt.

2.2. Văn hóa võ đạo với việc xây dựng và phát triển các môn phái võ cổ truyền Việt Nam trong thời gian tới

Trong đời sống văn hóa dân tộc, sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các môn phái võ cổ truyền Việt Nam như hiện nay không chỉ là sự phát triển hình thức. Bởi, cùng với sự trưởng thành về trình độ chuyên môn, về tổ chức và cả về nhận thức, dựa trên nền tảng vốn có của truyền thống văn hóa chung, võ cổ truyền Việt Nam đang phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, không dừng lại ở tính chất phong trào, mà còn có thể tiến tới tổ chức thành các học viện, các thiết chế cần thiết khác, bên cạnh các môn phái được tổ chức liên kết chặt chẽ để dần trở thành một lực lượng xã hội đóng vai trò, vị trí đặc biệt trong đời sống văn hóa dân tộc, cả về nghiên cứu lý luận, lý thuyết, hoạt động huấn luyện đào tạo, hoạt động phổ cập xây dựng đời sống văn hóa võ đạo cho mọi đối tượng, đặc biệt là thanh thiếu niên và trường học… Vốn văn hóa võ công lâu đời của Việt Nam đã có thể tích lũy những tuyệt kỷ không ngờ và cũng đang dần được nâng cao bằng một trình độ võ học được tổ chức nghiên cứu bài bản, hệ thống, có chiều sâu, để từng bước phấn đấu tiến tới ngang tầm thế giới trong tương lai không xa. Tuy nhiên, không bao giờ hoạt động võ thuật ở Việt Nam chỉ dừng lại ở kỹ thuật đánh võ, mang tính chất “võ biền”, mà phải là một hoạt động văn hóa võ đạo đích thực. Võ đạo Việt Nam là võ nhằm “giữ nước”, là xây dựng con người, đặc biệt là góp phần đào tạo thế hệ trẻ theo tiêu chỉ “Khỏe để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” chứ không có mục tiêu nào khác.

Theo đó, võ đạo Việt Nam không thể chấp nhận tập võ chỉ để biểu diễn mang tính phô trương hình thức, để thi đấu lấy thành tích nhằm đề cao cá nhân, đề cao môn phái mình so với các môn phái khác… Nói cách khác, văn hóa võ đạo Việt Nam không bao giờ chấp nhận tinh thần hiếu thắng cá nhân chỉ vì cái Tôi, cái Ta cá nhân nhỏ hẹp; mọi hình thức thi đầu nếu có đều là nhằm giao lưu trao đổi về kỹ thuật bằng tinh thần “văn hóa võ đạo” chân chính đích thực. Vai trò của Liên đoàn võ cổ truyền Việt Nam ở trung ương, Liên đoàn võ cổ truyền ở các địa phương và ngành chức năng Văn hóa Thể thao các cấp chính là những tổ chức đóng vai trò giềng mối đảm bảo cho các định hướng chung như vậy. Tất nhiên, sự nỗ lực phấn đấu của từng môn phái võ, với ý thức tự giác của từng võ sư, võ sinh để cùng nhau xây dựng một nền văn hóa võ đạo Việt Nam vững mạnh, theo các mục tiêu như đã xác định, vẫn là nhân tố quyết định cuối cùng. Với thành quả và vị thế đã có, trước yêu cầu nhiệm vụ xã hội ngày càng lớn, những vấn đề đặt ra trong hướng tới dựa trên cơ sở nhằm tiếp tục phát huy những thế mạnh đã có và khắc phục triệt để những hạn chế còn đang tồn tại, với mục đích mang tính chiến lược là xây dựng các môn phái võ cổ truyền Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh thật sự, đó là:

+ Mục tiêu chung: Về định hướng chiến lược, phát triển văn hóa võ đạo gắn với bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc phải lấy “võ đạo”, “võ đức” làm chuẩn mực cao nhất trong mọi hoạt động. Về chuyên môn (võ thuật, võ học), đó là công phu nghiêm túc thực chất và đạt đỉnh cao theo hướng ngày càng tinh thông. Về chính trị xã hội, đó là xác lập quan điểm lập trường xã hội rõ ràng trong nội bộ và luôn gắn chặt với tổ chức (Liên đoàn võ cổ truyền, ngành Văn hóa – Thể thao các cấp…) Về tổ chức quản lý nội bộ, đó là việc xây dựng cơ chế vận hành bằng tinh thần đạo lý “Sư – Huynh – Đệ” gắn với phong cách của một tập thể tổ chức theo mô hình công nghiệp – hiện đại, khắc phục tính “gia đình” theo kiểu nông nghiệp, thủ công trong tổ chức hoạt động của các lò võ hiện nay. Về xây dựng năng lực giao tiếp, quan hệ xã hội cụ thể, đó là xây dựng con người (vốn văn hoá) và phương tiện vật chất – kỹ thuật (hiện đại) có đủ trình độ, năng lực mở rộng, giữ gìn tốt mọi quan hệ xã hội (trong, ngoài môn phái và trong, ngoài nước)…

+ Phương hướng và giải pháp chủ yếu: Xây dựng hình ảnh (thương hiệu) thông qua những hoạt động tác nghiệp chuyên môn, công tác xã hội, giới thiệu trên báo đài, chủ động trên mạng xã hội…; huấn luyện đào tạo với các chương trình, giáo trình, đội ngũ võ sư và phương pháp huấn luyện, phương thức chiêu sinh, thi nâng cấp chặt chẽ, bài bản; phát triển nhân lực nòng cốt bằng cơ chế đào luyện, sàng lọc, phát triển ngày càng đông đảo đội ngũ võ sư huấn luyện viên có văn hoá, tri thức, đạo đức và vững vàng về trình độ chuyên môn (võ thuật, võ học, võ đạo…), cả về khả năng, kỹ năng giao tiếp; xây dựng tổ chức với bộ máy quản lý, vận hành từng môn phái bằng hệ thống chặt chẽ theo nguyên tắc “Tập trung dân chủ”, nhằm tạo điều kiện phát huy mọi trí tuệ, năng lực đóng góp bằng cơ chế tự vận hành năng động và có tổ chức chặt chẽ nhằm xây dựng mỗi võ sư môn sinh là một chủ thể thực sự; cơ chế hành chính, tài chính chặt chẽ, rõ ràng…

Vì một nền văn hóa võ đạo Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh, mỗi môn phái võ nói riêng và toàn bộ mọi hoạt động võ cổ truyền Việt Nam nói chung ở trong nước và trên thế giới không thể khác phải phấn đấu đạt chất lượng hiệu quả cao trong mọi hoạt động với tư thế một thực thể văn hoá võ đạo thật sự.

Kết luận

Nói đến truyền thống văn hoá dân tộc là nói đến các giá trị được tích luỹ qua sàng lọc, thử thách lịch sử, là dấu ấn đọng lại mang tính chất những thành tựu, những tinh hoa từ tinh thần và cả về thể chất của dân tộc. Võ đạo dân tộc chính là một bộ phận liên quan thể chất dân tộc, được kết tinh từ những giá trị truyền thống đó. Nhìn sâu vào thể chất dân tộc, chúng ta có thể phát hiện ra rằng nó chính là sự đáp ứng thực tế nhất, sự thoả mãn cao nhất nhu cầu hạnh phúc của con người và nhu cầu hạnh phúc cuộc sống gắn liền với đời sống văn hoá dân tộc. Sự kết tinh những tinh hoa của văn hóa dân tộc để tạo nên một thể chất dân tộc phát triển theo định hướng văn hóa vừa mang ý nghĩa thực tiễn cao, vừa mang tính lý luận thấm đẫm triết lý nhân sinh, đó là: Thể xác và tinh thần con người phải hoà hợp trong một nền sống nhất quán và hợp nhất với văn hoá dân tộc. Theo đó, ở một bình diện cao hơn, văn hóa thể chất của dân tộc Việt Nam luôn được nuôi dưỡng bằng một sinh lực nhân đạo gắn liền với mọi tiến trình đấu tranh không ngừng trong lịch sử dân tộc để làm nên sức sống mãnh liệt mang tinh thần “Nhân văn – Thượng võ”, nhằm phù hợp và đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong mọi thời kỳ lịch sử.

Ở mặt khác, mạch ngầm nội tại của văn hoá dân tộc gồm cả văn hóa thể chất dân tộc, trong thể chế văn hóa nông nghiệp từ hàng ngàn năm qua, đã âm thầm kiến tạo nên một nền phong hóa Việt Nam đặc sắc, gắn liền với sức sống bền vững của văn hóa gia đình, dòng tộc, dân tộc, đồng thời nó cũng chính là linh hồn và nội lực tạo nên thể chất dân tộc được biểu thị qua võ đạo dân tộc. Với sức sống của một bộ phận di sản văn hóa đặc biệt, võ cổ truyền Việt Nam sẽ có thể góp phần xây dựng vững chắc một nền “Văn hoá võ đạo Việt Nam” mang đậm nét “Nhân văn – Thượng võ”, nhằm nuôi dưỡng, phát triển “Thân khí” và “Dân khí” thông qua rèn luyện, nâng cao văn hóa thể chất con người Việt Nam nói chung, thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng, vì mục tiêu: THÂN THỂ KHOẺ MẠNH VÀ TINH THẦN LÀNH MẠNH THEO ĐỊNH HƯỚNG VĂN HOÁ DÂN TỘC./.

Các bài viết cùng danh mục